Trên cổ có một tuyến nội tiết rất nhỏ, kích thước khoảng 1 x 2 x 4 cm. Cũng như các cơ quan khác của cơ thể, tuyến giáp cũng có thể bị bệnh. Bình thường tuyến giáp sẽ nằm yên vị nhẹ nhàng, bao bọc xung quanh vùng yết hầu như một cái áo giáp. Tuy nhiên, khi tuyến giáp to bất thường, có nghĩa là tuyến giáp đã xuất hiện bướu – gọi là bướu giáp.

Khi nhắc đến bướu giáp, nhiều người lo ngại không biết đó là bướu lành hay bướu độc. Phòng khám ung bướu Đà Nẵng sẽ giúp bạn phân loại bướu giáp: Cách nhận biết bướu lành, bướu độc.

1. Bướu giáp đơn thuần

Bướu giáp đơn thuần là tình trạng phì đại tuyến giáp nhưng không có rối loạn chức năng tuyến giáp, hay còn gọi là bình giáp. Bướu giáp đơn thuần được chia làm bướu giáp địa phương và bướu giáp nhân. Sở dĩ được gọi là đơn thuần vì bướu giáp đơn đa số là lành tính, bệnh ảnh hưởng đến thẩm mỹ chứ không nguy hiểm đến sức khỏe.

Diễn tiến của bướu giáp âm thầm, ít gây triệu chứng nên người bệnh thường phát hiện khi khám sàng lọc bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh.

Sau khi loại trừ khả năng ác tính của bướu giáp, người bệnh thường được theo dõi định kỳ bằng siêu âm, điều trị bướu giáp và điều chỉnh dinh dưỡng từ 6 đến 18 tháng kể từ lần đánh giá ban đầu. Nếu nhân ổn định, đánh giá lại sau 3 đến 5 năm. Trường hợp bướu to gây khó thở, nói khó cần phải can thiệp phẫu thuật.

2. Bướu cường giáp

Cường giáp là một hội chứng, không phải là một bệnh riêng biệt. Trong đó Basedow là căn bệnh tự miễn của cơ thể, tuyến giáp phình to các yếu tố nội tiết của tuyến giáp bị rối loạn, tiết ra quá nhiều. Đây là bướu độc nhưng không phải ung thư.

Ngoài triệu chứng bướu cổ hay chính là nơi cổ phình to ra do tuyến giáp phì đại. Basedow còn có các biểu hiện của tình trạng cường giáp cho toàn cơ thể bao gồm: Hồi hộp đánh trống ngực, sợ nóng, tiêu chảy, run tay, sụt cân, ra mồ hôi nhiều, mất bình tĩnh, dễ cáu giận, rối loạn giấc ngủ, yếu mệt.

Bướu cường giáp nếu không phát hiện kịp thời, ngoài các biến chứng như bướu giáp đơn thuần, cường giáp cũng gây ra biến chứng tim mạch, cơn bão giáp và lồi mắt ác tính.

Để chẩn đoán bệnh cường giáp, các xét nghiệm cần làm là xét nghiệm chức năng tuyến giáp, định lượng TSH, FT3, FT4 với kết quả tăng nồng độ FT4, FT4 và TSH giảm.

Việc điều trị cường giáp cần kết hợp giữa nghỉ ngơi, an thần và các điều trị đặc hiệu như: Ức chế tổng hợp hormon giáp, điều trị bằng phẫu thuật, iod phóng xạ, gây thuyên tắc động mạch tuyến giáp. Lưu ý trong thời gian điều trị người bệnh cần theo dõi nguy cơ tái phát hoặc suy giáp có thể diễn ra trong nhiều năm sau đó.

Cơn bão giáp là tình trạng nhiễm độc giáp xảy ra cấp tính, tương thích với các nội tiết tố của tuyến giáp tiết ra quá nhiều sau tình trạng stress. Thông thường cơn bão giáp rất ít gặp nhờ điều kiện, chuẩn bị hiện nay.

3. Ung thư tuyến giáp

Ung thư tuyến giáp là loại ung thư phổ biến đứng thứ 4 ở nữ giới, chiếm 1,5 % các loại ung thư và đan có xu hướng gia tăng trong khoảng 30 năm trở lại chủ yếu ở các nước công nghiệp hóa.

Bối cảnh lâm sàng thường gặp nhất hiện nay và chẩn đoán ung thư giáp từ một nhân giáp ban đầu. Ngoài ra, triệu chứng của ung thư tuyến giáp rất mờ hồ, diễn tiến âm thầm, người bệnh đến khám không có triệu chứng, tình cờ phát hiện bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh.

a. Các dấu hiệu nhận biết

Một tỷ lệ người bệnh được chẩn đoán ung thư tuyến giáp khi xuất hiện:

– Hạch cổ

– Dấu chèn ép: Liệt dây thần kinh quặt ngược.

– Phùng đỏ mặt và/hoặc tiêu chảy trong ung thư tuyến giáp thể tủy.

– Di căn phổi hoặc di căn xương. Trong trường hợp này, nồng độ các chất chỉ điểm ung thư trong huyết thanh thường tăng rất cao.

Các trường hợp phát hiện tình cờ trên mẫu bệnh phẩm tuyến giáp lành tính cũng không phải ít gặp.

Ung thư tuyến giáp gồm nhiều loại khác nhau. Thông thường có 4 loại, được chia làm 3 nhóm:

– Ung thư tuyến giáp biệt hóa: ung thư tuyến giáp dạng nang và ung thư tuyến giáp dạng nhú. Chiếm 80 – 90%. Nếu can thiệp sớm có thể chữa khỏi hoàn toàn.

– Ung thư tuyến giáp dạng tủy: chiếm tỉ lệ thấp

– Ung thư tuyến giáp thoái sản: tỉ lệ rất thấp.

Ung thư tuyến giáp dạng tủy và thoái sản độ ác tính cao và diễn tiến rất xấu.

b. Chẩn đoán và điều trị

Về mặt chẩn đoán, các bác sĩ sẽ chẩn đoán ung thư tuyến giáp dựa vào các triệu chứng gợi ý:

– Cấu trúc dạng nốt tại tuyến giáp có thể tích tăng dần, hoặc một nhân giáp đã xuất hiện từ lâu nhưng tăng thể tích thời gian gần đây.

– Dấu hiệu chèn ép cơ quan lân cận (hội chứng trung thất)

– Hạch cổ hoặc hạch thượng đòn lớn dần, chắc, không đau

Siêu âm giáp giúp phân biệt nang giáp với các khối dạng đặc.

– Xạ hình giáp: Kết quả tuyền thuộc loại ung thư, nếu phát hiện các nhân “lạnh” cần chọc hút xét nghiệm tế bào học, hoặc sinh thiết xét nghiệm mô hoc.

Điều trị tuyến giáp bướu độc mang tính chất của điều trị một bệnh ung thư. Đó là phẫu thuật cắt tuyến giáp bán phần khi còn khu trú, hoặc cắt toàn phần phối hợp bóc hạch xâm lấn. Tiếp tục điều trị với iod phóng xạ và liệu pháp ức chế bằng hormone giáp sau phẫu thuật.

Đối với ung thư giáp thể không biệt hóa cần tiến hành phẫu thuật rộng rãi, điều trị iod phóng xạ liều cao và xem xét hóa trị liệu tạm thời. Đối với ung thư biểu mô thể tủy, sau khi phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, theo dõi nồng độ calcitonin giúp phát hiện các mô ung thư còn sót chưa được loại bỏ.

Tuy nhiên hiện nay nhờ kĩ thuật siêu âm phát triển và ý thức thăm khám sức khỏe định kỳ nên người bệnh phát hiện sớm được ung thư tuyến giáp. Hiện nay nhiều bệnh viện đã kết hợp siêu âm tuyến giáp vào gói khám sức khỏe định kỳ. Người bệnh nên hỏi rõ và tham khảo để yên tâm.

Trả lời

I am Dr.Bao
Online
Xin chào, tôi là Dr.Bao, bác sĩ tư vấn online của bạn. 👋
Xin chào, tôi là Dr.Bao, bác sĩ tư vấn online của bạn. 👋
LOGO
0914 0075 32
Liên hệ nhanh với Bác sĩ